Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2

Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2

Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2

Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2

Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2
Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2
Đường trung bình MA Moving Averages Phần 2
Đường trung bình là một trong những công cụ phổ biến và dễ sử dụng nhất để phân tích kỹ thuật. Đường trung bình giúp làm phẳng dữ liệu và nhờ đó dễ nhận biết được xu hướng, điều này đặc biệt hữu dụng đối với thị trường biến động. Đường trung bình cũng làm nền tảng cho việc xây dựng nhiều công cụ khác.

Picture
 
Có 02 loại đường trung bình phổ biến nhất là SMA (Simple Moving Average, đường trung bình đơn giản) và EMA (Exponential Moving Average, đường trung bình lũy thừa)

Simple Moving Average (SMA)
Một đường SMA được tạo thành bằng cách tính giá trung bình của một khoảng thời gian. Đường SMA có thể được tính toán bằng giá cao, thấp hoặc giá mở nhưng hầu hết đường trung bình được tính toán bằng giá đóng. Việc tính toán được lặp lại cho mỗi vạch giá (price bar) trên đồ thị. Sau đó các điểm trung bình được nối kết lại tạo thành đường uốn khúc đấy chính là đường trung bình. Theo 2 ngày cuối cùng, SMA chuyển từ 12 lên 13. Khi những ngày mới được thêm vào, những ngày cũ được bỏ ra và đường trung bình sẽ tiếp tục biến đổi theo thời gian.
Picture
 
Tất cả các đường trung bình là các công cụ báo biểu trễ (lagging indicator) và luôn luôn theo sau giá thật. Giá của Eastman Kodak (EK) đang đi xuống nhưng SMA 10-day nằm trên giá. Nếu giá đang lên thì SMA hầu hết sẽ nằm bên dưới giá. Bởi vì các đường trung bình là những công cụ báo biểu trễ nên chúng được xếp vào loại công cụ báo biểu theo sau xu hướng. Khi giá theo xu hướng thì đường trung bình hoạt động tốt, nhưng không phải lúc nào giá cũng theo xu hướng do đó đường trung bình có thể đưa ra tín hiệu sai lệch.

Exponential Moving Average (EMA)
Để giảm độ trễ trong đường SMA, người ta thường dùng đường EMA. Đường EMA giảm độ trễ bằng cách áp dụng “mức ảnh hưởng” (weight) nhiều đối với các giá gần so với các giá cũ hơn

Cách tính EMA
Đường EMA có thể được xác định bằng 20 cách : EMA dựa trên phần trăm (a percent-based EMA, sử dụng tham số là một số phần trăm) và EMA dựa trên thời gian (a period-based EMA, sử dụng tham số là khoảng thời gian).

Công thức tính một EMA là :
EMA(current) = ( (Price(current) - EMA(prev) ) x Multiplier) + EMA(prev)
Đối với một EMA dựa trên phần trăm, "Multiplier" bằng tỷ lệ % được chỉ định cho EMA. Đối với EMA dựa trên thời gian, "Multiplier" bằng 2/(1+N) trong đó N là số khoảng thời gian.
VD, đối với 10-period EMA thì Multiplier được tính như sau
(2 / (Time periods + 1) ) = (2 / (10 + 1) ) = 0.1818 (18.18%)
Nghĩa là một 10-period EMA thì tương đương 18.18% EMA.
Bảng bên dưới là kết quả tính cho EMA của Eastman Kodak :
(C - P) = (57.15 - 59.439) = -2.289
(C - P) x K = -2.289 x .181818 = -0.4162
( (C - P) x K) + P = -0.4162 + 59.439 = 59.023
Picture
 
Chú ý rằng mỗi một giá đóng trước đó trong chuỗi dữ liệu được sử dụng để tính cho một EMA để tạo đường EMA. Sự ảnh hưởng của dữ liệu cũ giảm theo thời gian nhưng không bao giờ mất hoàn toàn. Ảnh hưởng củ dữ liệu cũ giảm nhanh đối với EMA ngắn nhưng không bao giờ hoàn toàn mất đi.

SMA so với EMA
Sự khác nhau giữa EMA và SMA là rất nhỏ. Trong ví dụ này chỉ sử dụng 20 ngày và sự khác biệt rất nhỏ tuy nhiên vẫn có sự khác biệt. Đường EMA thường gần với giá thực hơn so với đường SMA.
Picture
 
Từ ngày 10 đến 20, đường EMA gần giá thực hơn đường SMA (8/11 lần). Sự sai biệt trung bình của đường EMA so với giá thực là 1.52 và đường SMA là 1.69. Điều này nghĩa là đường EMA có 1.52 điểm nằm trên và dưới giá thực và đường SMA có 1.69 điểm nằm trên và dưới giá thực. Khi Kodak ngừng đi xuống và bắt đầu đi ngang đường SMA vẫn giữ hướng xuống. Trong khoảng thời gian này, đường SMA gần giá thực hơn EMA. Đường EMA bắt đầu khựng lại và rời xa giá thực. Điều này là do giá thực bắt đầu khựng lại. Do giá thực khựng lại nên đường SMA tiếp tục giảm và gần chạm giá thực vào ngày 13/12
Picture
 
So sánh giữa đường EMA 50-day và SMA 50-day của IBM cũng thấy rằng đường EMA theo xu hướng nhanh hơn đường SMA. Các mũi tên xanh đánh dấu khi cổ phiếu bắt đầu một xu hướng mạnh. Do đặt mức ảnh hưởng cao hơn đối với giá gần, đường EMA ảnh hưởng nhanh hơn so với SMA và gần giá thực. Vòng tròn xám thể hiện khi xu hướng bắt đầu chậm lại và thị trường đi ngang. Khi thay đổi xu hướng bắt đầu, đường SMA gần giá thực. Khi đến năm 2001, cả 02 đường trung bình hội tụ. Trước 2001, giá bắt đầu xu hướng lên và EMA nhanh chóng hướng lên theo giá thực và gần với giá thực hơn SMA.

Đường nào tốt hơn?
Đường trung bình mà bạn sử dụng sẽ tùy thuộc vào sở thích và cách giao dịch của bạn. Đường SMA hiển nhiên có một độ trễ, đường EMA có thể bắt được đảo chiều nhanh hơn. Một số trader thích sử dụng đường EMA đối với khoảng thời gian ngắn để nắm bắt được các thay đổi nhanh hơn. Nhưng một số trader khác lại thích sử dụng đường SMA trên khoản thời gian dài để xác định thay đổi xu hướng dài hạn. Một số người nghĩa rằng các tín hiệu nhạy hơn và nhanh hơn thì tốt, nhưng điều này không luôn luôn đúng và đây là một điều lưỡng nan trong phân tích kỹ thuật : cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy. Các tín hiệu có độ nhạy cao thì càng bị sai lầm nhiều. Đối với đường trung bình, đường trung bình ngắn hơn sẽ nhạy hơn và tạo nhiều tín hiệu hơn. Đường EMA nhạy hơn đường SMA và sẽ cho nhiều tín hiệu hơn. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc tín hiệu sai tăng lên. Đường trung bình dài hơn sẽ chậm hơn và tạo ít tín hiệu hơn. Các tín hiệu này sẽ có độ tin cậy cao hơn, nhưng chúng cũng trễ hơn. Mỗi trader có kinh nghiệm sử dụng đường trung bình khác nhau và có cách cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy riêng.

Công cụ theo sau xu hướng
Các đường trung bình làm phẳng dữ liệu giúp dễ xác định xu hướng. Bởi vì giá trong quá khứ được sử dụng để tạo ra đường trung bình nên chúng được xem là công cụ trễ hoặc theo sau xu hướng. Đường trung bình sẽ không tiên đoán một thay đổi trong xu hướng, mà theo sau xu hướng hiện tại. Do đó, chúng phù hợp với mục đính xác định xu hướng, không dùng tiên đoán xu hướng.

Khi nào sử dụng
Bởi vì đường trung bình theo sau xu hướng, chúng làm việc tốt khi cổ phiếu đang có xu hướng và không hiệu quả khi chứng khoán đi ngang. Vì điều này, các trader nên xác định cổ phiếu có xu hướng hay không trước khi quyết định phân tích bằng đường trung bình. Giá cổ phiếu có một trong ba xu hướng : xu hướng lên, xu hướng xuống và xu hướng ngang. Xu hướng lên được thiết lập khi giá sau cao hơn giá trước, xXu hướng xuống được thiết lập khi giá sau thấp hơn giá trước, và xu hướng ngang khi cổ phiếu không thể thiết lập xu hướng lên hoặc xuống. Nếu cổ phiếu đang xu hướng ngang, một xu hướng lên bắt đầu khi đường biên trên bị phá vỡ và ngược lại xu hướng xuống hình thành khi đường biên dưới bị phá vỡ.
Picture
 
Trong VD của Ford, giá cổ phiếu có thể vừa lên vừa xuống. Các vòng tròn đỏ cho thấy những lúc giá dao động trong một phạm vi hẹp. Thật khó để xác định khi nào một xu hướng sẽ dừng và giá bắt đầu dao động trong một phạm vi hẹp hoặc khi nào giá ngừng dao động trong một phạm vi hẹp và xu hướng sẽ bắt đầu. Chú ý những lúc giá dao động hẹp và những lúc phá vỡ hình thành xu hướng. Đường trung bình làm việc tốt những lúc có xu hướng, nhưng không tốt những lúc dao động trong phạm vi hẹp.Cũng chú ý rằng đường trung bình chậm sau xu hướng : nó luôn luôn nằm bên dưới giá khi xu hướng lên và nằm bên trên giá khi xu hướng xuống. Đường SMA – 50 day được sử dụng trong ví dụ này. Tuy nhiên khoảng thời gian cho đường trung bình là một lựa chọn và tùy thuộc vào tính chất của cổ phiếu cũng như kiểu đầu tư, kiểu giao dịch… 
Picture
 
Nếu giá dao động lên xuống trong thời gian dài thì đường trung bình không phải là một lựa chọn tốt nhất cho việc phân tích. Đồ thị của Coca-Cola cho thấy cổ phiếu dao động từ 60 đến 40 trong 02 tháng của năm 2001. Trước khi giá đi xuống, giá dao động trên và dưới đường trung bình. Sau đợt giảm, cổ phiếu tiếp tục dao động và không hình thành xu hướng. Cố gắng phân tích dựa vào đường trung bình những lúc này thì không hiệu quả.
Picture
 
Nhìn qua đồ thị của Time Warner(TWX) cho chúng ta một bức tranh khác. Trên cùng một khoảng thời gian, TWX đã thể hiện khả năng hình thành xu hướng. Có 03 xu hướng rõ ràng. Khi cổ phiếu di chuyển lên bên trên hoặc xuống bên dưới đường SMA – 70 days, nó tiếp tục xu hướng đó trong một khoảng thời gian dài hơn. Mặt khác, giá cổ phiếu Coca-cola cắt qua đường SMA – 70 days rất nhiều lần và tạo ra nhiều tín hiệu giả. Một đường trung bình dài hơn có thể làm việc tốt hơn, đồ thị của TWX đã thể hiện xu hướng tốt hơn.

Xác định thông số đường trung bình
Khi một cổ phiếu đã thể hiện xu hướng, công việc kế tiếp là chọn lựa một số khoảng thời gian cho đường trung bình và kiểu đường trung bình. Một số khoảng thời gian được sử dụng cho đường trung bình sẽ thay đổi tùy thuộc vào tính chất biến động của cổ phiếu, khuynh hướng và sở thích của cá nhân. Đối với cổ phiếu biến động nhiều thì cần làm phẳng nhiều hơn do đó đường trung bình dài hơn. Không có bộ thời gian chuẩn, nhưng một vài bộ thời gian đươc sử dụng phổ biến như : 21, 50, 89 và 200 days; 10, 30 và 40 week. Các trader ngắn hạn thường tìm tín hiệu xu hướng 2-3 tuần bằng đường trung bình 21 day. Phương pháp thử và sai là phương tiện thông dụng tốt nhất để tìm khoảng thời gian phù hợp. Kiểm tra xem đường trung bình so với giá như thế nào. Nếu giá và đường trung bình cắt nhau quá nhiều thì cần tăng khoảng thời gian của đường trung bình. Nếu đường trung bình phản ánh giá chậm thì cần giảm khoảng thời gian của đường trung bình. Thêm vào đó, bạn có thể muốn thử sử dụng cả 02 đường trung bình SMA và EMA. Đường EMA thường sử dụng tốt nhất cho ngắn hạn vì cần sự đáp ứng nhanh của đường trung bình. Đường SMA làm việc tốt hơn cho dài hạn.

Sử dụng đường trung bình
Có nhiều công dụng đối với đường trung bình, nhưng 03 công dụng nổi bật là :
  • Nhận biết/xác định xu hướng
  • Nhận biết/xác định các mức hỗ trợ và kháng cự
  • Hệ thống giao dịch

Nhận biết/xác định xu hướng
Có 03 cách nhận biết xu hướng với đường trung bình : hướng, vị trí và cắt nhau. Kỹ thuật nhận biết xu hướng đầu tiên sử dụng hướng của đường trung bình để xác định xu hướng. Nếu đường trung bình đi lên, xu hướng lên. Nếu đường trung bình đi xuống, xu hướng xuống. Hướng của đường trung bình có thể xác định đơn giản bằng cách nhìn vào đường trung bình trên đồ thị. Trong trường hợp của Disney (DIS), đường EMA 100-day được sử dụng để nhận biết xu hướng. Một số điểm đảo chiều quan trọng được khoanh đỏ. Một số tín hiệu tốt được đưa ra nhưng cũng có một số tín hiệu giả và tín hiệu trễ. Khoảng thời gian của đường trung bình sẽ ảnh hưởng đến số tín hiệu và khả năng chậm trễ của tín hiệu. Đường trung bình là một công cụ báo hiệu trễ. Do đó, đường trung bình càng dài thì phản ánh giá càng chậm. Đối với các tín hiệu nhanh có thể sử dụng đường EMA-50 days.Kỹ thuật thứ 2 để nhận biết xu hướng là vị trí giá. Vị trí giá so với đường trung bình có thể được sử dụng để nhận biết hướng cơ bản. Nếu giá bên trên đường trung bình thì xu hướng lên. Nếu giá bên dưới đường trung bình thì xu hướng xuống.
Picture
 
Đây là một ví dụ rất dễ hiểu. Xu hướng dài hạn của Cisco (CSCO) được nhận biết bằng vị trí của đường SMA 100-day. Khi giá CSCO bên trên đường SMA thì xu hướng tăng. Khi giá bên dưới SMA thì xu hướng giảm. Tín hiệu mua và bán được tạo khi giá cắt qua đường trung bình. Một tín hiệu bán được tạo vào tháng 8/1999 và một tín hiệu mua sai được tạo vào tháng 7/2000. Cả 02 tín hiệu này đều xảy ra khi xu hướng củ Cisco bắt đầu yếu đi. Kỹ thuật thứ 3 để nhận biết xu hướng là dựa trên vị trí của một đường trung bình ngắn so với một đường trung bình dài. Nếu đường trung bình ngắn bên trên đường trung bình dài thì xu hướng lên. Nếu đường trung bình ngắn bên dưới đường trung bình dài thì xu hướng xuống.  Đối với Inter-Tel (INTL), đường trung bình 30 và 100 cắt nhau được sử dụng để nhận biết xu hướng. Khi đường trung bình 30 bên trên đường trung bình 100 thì xu hướng lên. Khi đường trung bình 30 bên dưới đường trung bình 100 thì xu hướng xuống. Một biểu đồ vi sai 30/100 được vẽ bên dưới đồ thị giá bằng công cụ Percentage Price Oscillator (PPO) với thông số (30,100,1). Khi vi sai là dương thì xu hướng lên, khi vi sai là âm thì xu hướng xuống. Cũng như tất cả các công cụ theo sau xu hướng, tín hiệu là việc tốt khi giá tạo một xu hướng mạnh, nhưng không hiệu quả khi giá dao động trong phạm vi. Cũng lưu ý rằng tín hiệu có khuynh hướng trễ và sau khi biến động đã bắt đầu.. Một lần nữa, các công cụ theo sau xu hướng sử dụng tốt nhất để nhận biết xu hướng chứ không phải để tiên đoán xu hướng. 
Picture
 
Picture
 
Các mức hỗ trợ và kháng cự
Một công dụng khác của đường trung bình là xác định các mức hỗ trợ và kháng cự. Việc này được thực hiện với một đường trung bình và được dựa trên sự kiện trước đó. Cũng như việc xác định xu hướng, việc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự thông qua đường trung bình làm việc tốt nhất trong các thị trường có xu hướng rõ. Sau khi tạo thành xu hướng đi lên, giá của Sun Microsystems (SUNW) đã test thành công các mức hỗ trợ của đường trung bình vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Sau lần test đầu tiên, đường trung bình 50-day đã thành công tiếp thêm 4 lần test mức hỗ trợ cho các tháng tiếp theo. Một cú phá vỡ mức hỗ trợ của đường trung bình báo hiệu rằng cổ phiếu có thể chuyển sang dao động trong phạm vi và có thể đảo hướng. Giá phá vỡ đường trung bình vào tháng 4/2000 và đường trung bình trở thành mức kháng cự các tháng sau đó. Khi giá cắt đường trung bình vào tháng 6/2000, đường trung bình trở lại làm mức hỗ trợ cho đến tháng 10/2000. 
Picture

Đăng lúc: 02:05:43 PM | 19-11-2016 | Đã xem: 424


Bài viết cùng chuyên mục


forex

backtop